alt

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG

  Thứ Thu, 15/08/2019

Bệnh thiên đầu thống hay còn được gọi là bệnh glôcôm hoặc cườm nước. Bệnh thường xuất hiện ở đối tượng trung niên nhưng người trẻ tuổi và trẻ em vẫn có thể mắc bệnh. Ở bệnh nhân bị thiên đầu thống, áp lực trong mắt sẽ tăng lên, dẫn tới tổn hại dây thần kinh thị giác. Nếu không được điều trị sớm, dây thần kinh thị giác càng bị tổn hại nặng nề và gây mất thị lực vĩnh viễn. Điều trị thiên đầu thống thường được thực hiện bằng thuốc hoặc bằng phẫu thuật hoặc là kết hợp điều trị bằng cả hai phương pháp trên. Ở Việt Nam, hầu hết bệnh nhân đều tìm sự hỗ trợ của bác sĩ khi giai đoạn bệnh đã nặng và cần phải phẫu thuật mới có thể cứu chữa kịp thời. Hiện nay vẫn chưa có phương pháp chữa khỏi hoàn toàn bệnh thiên đầu thống. Mục đích điều trị bệnh là làm chậm tiến triển của bệnh, hạn chế tổn thương dây thần kinh thị giác. Tùy vào từng giai đoạn của bệnh, có thể phải điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật.

1. Phương pháp điều trị bằng thuốc

Có thể dùng thuốc nhỏ mắt, thuốc hạ nhãn áp dạng uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Một số loại thuốc trị tăng nhãn áp đang có trên thị trường gồm: pilocarpin 1%, 2%, Timolol 0.25%, 0.5%, betoptic S, alphagan P, travatan 0.004%, lumigan, azopt, acetazolamide 250mg, glycerol, manitol...Các thuốc này có thể gây ra nhiều tác dụng phụ, do đó người bệnh không được sử dụng bừa bãi mà phải tuân thủ chặt chẽ chỉ định của bác sĩ. Tuỳ vào từng giai đoạn khác nhau thì người bệnh sẽ phải áp dụng các loại thuốc đặc hiệu khác nhau.

  • Giai đoạn sớm sau mổ: Các thuốc phải dùng ngay sau khi mổ thường là thuốc tra mắt thuộc nhóm kháng sinh (oflovid, tobrex, cebemycin…), thuốc chống viêm steroid hoặc không steroid (maxitrol, indocollyre…). Bên cạnh đó là các loại thuốc kháng sinh dùng đường uống.

Thuốc nhỏ mắt được dùng từ 3 – 6 lần/ngày. Với trường hợp có phản ứng viêm thì phải tra thuốc nhiều hơn. Khoảng cách giữa mỗi lần tra phải đều nhau. Đồng thời, các loại thuốc khác nhau phải nhỏ cách nhau ít nhất 10 phút.

  • Giai đoạn muộn sau mổ: Bệnh nhân cần phải thường xuyên dùng các thuốc tăng cường tuần hoàn (giloba, tanakan…), thuốc bảo vệ thành mạch (rutin C) theo sự chỉ dẫn của bác sĩ và bổ sung thêm nhiều vitamin để nuôi dưỡng và hồi phục các sợi thần kinh thị giác.

Ngoài ra, đối với từng trường hợp cụ thể thì việc điều trị sẽ áp dụng phương pháp nhất định.

 Bệnh thiên đầu thống góc đóng cơn cấp:

Thuộc dạng cấp cứu nhãn khoa, việc điều trị phải tiến hành khẩn trương, tích cực để hạ nhãn áp, giảm đau và an thần cho bệnh nhân:

  • Tại mắt: tra pilocarpin 1% - 2% 1h/lần, duy trì đến khi nhãn áp hạ thì tra 3 - 4 lần/ngày.
  • Acetazolamid 0.25 g, uống 2 - 4 viên trong 24h.
  • Nếu bệnh nhân nôn nhiều không uống được thì tiêm tĩnh mạch Diamox 500 mg x 1 ống.

Các thuốc trên phải được bác sĩ chỉ định và theo dõi sát sao việc sử dụng thuốc của bệnh nhân.

 Bệnh thiên đầu thống góc mở:

 Cần điều trị với mục đích là hạ nhãn áp xuống dưới mức gây tổn hại cho thần kinh và chức năng thị giác. Phương pháp điều trị phải an toàn nhất, ít ảnh hưởng nhất đến cuộc sống của bệnh nhân. Các thuốc tra tại chỗ điều trị glocom góc mở có khá nhiều như: nhóm huỷ beta-adrenergic, nhóm cường adrenergic, nhóm cường cholinergic, nhóm prostaglandin. Bác sĩ sẽ chỉ định thuốc phù hợp, tuy nhiên bệnh nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt liệu trình điều trị trong suốt cuộc đời dưới sự theo dõi định kỳ của bác sĩ. Nếu điều trị nội khoa không mang lại kết quả, bệnh nhân sẽ cần đến các phương pháp phẫu thuật.

Với bệnh nhân điều trị glocom góc mở bằng thuốc tra tại mắt, phải khám và tiến hành theo dõi nhãn áp 2 tháng/lần, kiểm tra thị trường và soi đáy mắt 3 - 6 tháng/lần. Theo dõi điều trị là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả cuối cùng.

Trong nhiều trường hợp, glocom tuy đã được phát hiện và điều trị, song người bệnh cho rằng đã khỏi hẳn nên không đi khám, theo dõi tiếp, hậu quả là bệnh tiếp tục âm ỉ tiến triển dẫn tới mất hoàn toàn thị lực. Vì vậy, bệnh nhân cần tuân thủ theo dõi định kỳ từ khi phát hiện bệnh, kiên trì điều trị suốt đời nhằm kiểm soát diễn biến bệnh, bảo tồn được thị lực của mình.

2. Phương pháp điều trị bằng phẫu thuật

Hiện nay có 3 phương pháp phẫu thuật phổ biến để điều trị bệnh thiên đầu thống:

  • Cắt bè củng giác mạc

Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc là một phẫu thuật tạo lỗ rò, với mục đích tạo một đường thông từ tiền phòng vào khoang dưới kết mạc giúp dẫn lưu thủy dịch và hạ nhãn áp.

  • Cấy ghép ống thoát thủy dịch.

Sử dụng một chiếc ống có chiều dài khoảng 1.3 cm từ chất liệu silicon làm ống thoát thủy dịch ghép vào mắt bệnh nhân. Phương pháp này có một số hạn chế, như sau mổ bệnh nhân khá khó chịu do phải băng mắt, và thời gian theo dõi cần tới vài tuần.

  • Mổ glôcôm bằng laser

Dùng tia lazer “mở đường” cho thủy dịch chảy ra ngoài dễ dàng hơn, giảm nhãn áp của mắt. Có nhiều dạng phẩu thuật lazer tùy theo dạng bệnh như Laser trabeculoplasty, Laser phẫu thuật tròng đen, Laser cyclo-ablation…

Mỗi phương pháp có các ưu và nhược điểm riêng. Tùy vào đặc điểm của từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp phẫu thuật phù hợp. Có trường hợp bệnh nhân đã phẫu thuật nhưng bệnh lại tái phát. Do đó, người bệnh không được chủ quan mà cần khám sức khỏe định kỳ để các bác sĩ tư vấn và theo dõi. Nếu không theo dõi và thăm khám thường xuyên thì bệnh vẫn có thể tiếp tục gây tổn hại và dẫn tới mù loà. Điều trị đúng và kịp thời giúp làm bình ổn nhãn áp không gây tổn thương thần kinh thị giác. Bác sĩ nhãn khoa sẽ căn cứ vào hình thái của bệnh để điều trị bằng phẫu thuật hoặc nội khoa một cách thích hợp. Nếu thấy có vấn đề khác lạ xảy ra với mắt, bạn cần đến bệnh viện hoặc các cơ sở y tế để kịp thời phát hiện và chữa trị bệnh. Bên cạnh đó cũng cần có lối sống và sinh hoạt hợp lý, giữ cho đôi mắt khỏe mạnh, tránh gây các tổn thương lên mắt.

Nguồn: Ban biên tập NAVITA

Viết bình luận của bạn:

Đăng ký tư vấn

Nhận tư vấn miễn phí 24/7 từ đội ngũ Bác sĩ, Chuyên gia của Công ty NAVITA, Hungary

Đặt lịch hẹn tư vấn

Nhận thông tin khuyến mãi

popup

Số lượng:

Tổng tiền: